(Nguồn: Nghị định số 24/2024/NĐ-CP ban hành ngày
27/02/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều và biện pháp
thí hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, có hiệu lực thi hành kể
từ ngày 27/02/2024)
Điều
96. Kết nối Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia với các hệ thống khác
1. Kết nối với Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh
nghiệp, đăng ký hợp tác xã, đăng ký hộ kinh doanh:
a) Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia tiếp nhận thông tin về
đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hợp tác xã, đăng ký hộ kinh doanh để phục vụ cho
việc đăng ký tham gia, hoạt động của nhà thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc
gia;
b) Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia sử dụng thông tin về
tình trạng pháp lý, báo cáo tài chính và các thông tin khác của doanh
nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh lưu giữ tại Hệ thống thông tin quốc gia về
đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hợp tác xã, đăng ký hộ kinh doanh để đánh giá hồ
sơ dự sơ tuyển, hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự thầu và xét duyệt trúng thầu. Dữ liệu
chia sẻ giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hợp
tác xã, đăng ký hộ kinh doanh với Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia được cập
nhật thường xuyên, liên tục;
c) Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng, quản lý, hướng dẫn thực
hiện kết nối giữa các Hệ thống quy định tại điểm a và điểm b khoản này.
2. Kết nối với Hệ thống thông tin quản lý thuế:
a) Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia sử dụng thông tin về thực
hiện nghĩa vụ nộp thuế và thông tin báo cáo tài chính của tổ chức, doanh
nghiệp, hộ kinh doanh trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp,
đăng ký hợp tác xã, đăng ký hộ kinh doanh để phục vụ cho việc đánh giá hồ sơ
quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu và xét duyệt trúng thầu;
b) Thông tin về nghĩa vụ nộp thuế và thông tin báo cáo tài
chính của tổ chức, doanh nghiệp, hộ kinh doanh được cập nhật thường xuyên, liên
tục;
c) Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức thực hiện kết
nối Hệ thống thông tin quản lý thuế với Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia thông
qua Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hợp tác
xã, đăng ký hộ kinh doanh; quản lý thông tin tiếp nhận theo quy định của pháp
luật về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước.
3. Kết nối với Hệ thống thông tin về quản lý ngân sách và kho
bạc:
a) Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia chia sẻ các thông tin về
hợp đồng, tiến độ thực hiện, bảng xác định giá trị khối lượng công việc hoàn
thành, tiến độ thanh toán của hợp đồng phục vụ quản lý thực hiện hợp đồng,
thanh toán hợp đồng và quản lý năng lực kinh nghiệm, kết quả thực hiện hợp đồng
của nhà thầu;
b) Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức thực hiện kết
nối Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc với Hệ thống mạng đấu
thầu quốc gia; quản lý thông tin tiếp nhận theo đúng quy định của pháp luật về
quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước.
4. Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia được kết nối với Bảo hiểm
xã hội Việt Nam, Cổng thông tin và các Hệ thống khác để đơn giản hoá quy trình
đấu thầu, quản lý hợp đồng, thanh toán hợp đồng.
Điều
97. Quy trình lựa chọn nhà thầu qua mạng
1. Việc lập, thẩm định, phê
duyệt hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời thầu thực hiện theo quy
định tại các Điều 23, 24, 25, 35,
36, 37, 60, 61 và 62 của Nghị định này.
a) Đối với các nội dung yêu cầu trong bảng dữ liệu, tiêu
chuẩn đánh giá về tính hợp lệ, năng lực, kinh nghiệm trong hồ sơ mời sơ tuyển,
hồ sơ mời thầu của gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, dịch vụ phi tư vấn, chủ
đầu tư, bên mời thầu không được đính kèm các file yêu cầu khác ngoài các nội
dung đã được số hóa dưới dạng webform trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia;
b) Đối với các nội dung yêu cầu trong bảng dữ liệu, tiêu
chuẩn đánh giá về tính hợp lệ, năng lực, kinh nghiệm, tiêu chuẩn đánh giá về kỹ
thuật trong hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời thầu của gói thầu dịch vụ tư vấn, chủ
đầu tư, bên mời thầu không được đính kèm các file yêu cầu khác ngoài các nội
dung đã được số hóa dưới dạng webform trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.
2. Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ
dự sơ tuyển, hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự thầu thực hiện theo quy định tại
các Điều 23, 24, 35, 36, 60 và 61 của Nghị định này.
3. Nguyên tắc đánh giá hồ sơ
dự thầu thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4,
6, 7 và 8 Điều 27, khoản 1 Điều 39 và khoản 1, khoản 2 Điều 64 của Nghị định này.
Đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, dịch vụ phi tư vấn theo
phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ, sử dụng phương pháp giá thấp nhất và
các hồ sơ dự thầu không có bất kỳ ưu đãi nào thì Hệ thống mạng đấu thầu
quốc gia tự động xếp hạng nhà thầu theo giá dự thầu; việc đánh giá hồ sơ dự
thầu có thể được thực hiện đối với nhà thầu xếp hạng thứ nhất. Trường hợp
nhà thầu xếp hạng thứ nhất không đáp ứng thì đánh giá đối với nhà thầu xếp hạng
tiếp theo.
4. Việc làm rõ hồ sơ dự thầu
được thực hiện thông qua Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia theo quy định tại
các khoản 1, 3, 4, 5 Điều 28 và các khoản 1, 3, 4, 5 Điều 65 của Nghị định này.
5. Việc sửa lỗi, hiệu chỉnh
sai lệch thực hiện theo quy định tại Điều 29 và Điều 66
của Nghị định này.
6. Hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu,
kết quả lựa chọn danh sách ngắn, kết quả lựa chọn nhà thầu được phê duyệt trên
Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia theo lộ trình quy định tại điểm d khoản 8 Điều
này.
7. Nhà thầu có trách nhiệm theo dõi, cập nhật các thông tin
trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia đối với gói thầu mà nhà thầu quan tâm hoặc
tham dự. Trường hợp xảy ra các sai sót do không theo dõi, cập nhật thông tin
trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia dẫn đến bất lợi cho nhà thầu trong quá
trình tham dự thầu bao gồm: thay đổi, sửa đổi hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ
tuyển, hồ sơ mời thầu, thời điểm đóng thầu, thời gian thương thảo hợp đồng và
các nội dung khác thì nhà thầu phải tự chịu trách nhiệm và chịu bất lợi trong
quá trình tham dự thầu.
8. Việc lựa chọn nhà thầu qua mạng từ ngày Nghị định này có
hiệu lực thi hành đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2024 được thực hiện theo lộ
trình sau:
a) Tổ chức lựa chọn nhà thầu qua mạng đối với toàn bộ (100%)
gói thầu thuộc dự án đầu tư áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn
chế, chào hàng cạnh tranh trong nước thuộc lĩnh vực hàng hóa, xây lắp, dịch vụ
phi tư vấn, dịch vụ tư vấn có giá gói thầu không quá 500 tỷ đồng, trừ gói thầu
hỗn hợp, gói thầu áp dụng phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ, hai giai
đoạn hai túi hồ sơ, đấu thầu quốc tế;
b) Việc tổ chức lựa chọn nhà thầu qua mạng trong năm phải bảo
đảm tổng số lượng gói thầu đạt tối thiểu 95% số lượng gói thầu và tối thiểu 90%
tống giá trị gói thầu áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn
chế, chào hàng cạnh tranh trong nước trừ gói thầu hỗn hợp, gói thầu áp dụng
phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ, hai giai đoạn hai túi hồ sơ, đấu thầu
quốc tế;
c) Tổ chức lựa chọn nhà thầu qua mạng đối với toàn
bộ (100%) gói thầu thuộc dự toán mua sắm áp dụng hình thức đấu thầu
rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chào hàng cạnh tranh trong nước, trừ gói thầu hỗn
hợp, gói thầu áp dụng phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ, hai giai đoạn
hai túi hồ sơ, đấu thầu quốc tế;
d) Đối với gói thầu áp dụng lựa chọn nhà thầu qua mạng,
việc phê duyệt hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, kết quả
lựa chọn danh sách ngắn, kết quả lựa chọn nhà thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu
quốc gia được thực hiện kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2024.
9. Các trường hợp không đấu
thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia quy định tại khoản
5 Điều 50 của Luật Đấu thầu bao gồm:
a) Gói thầu áp dụng phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ,
hai giai đoạn hai túi hồ sơ, đấu thầu quốc tế;
b) Gói thầu áp dụng hình thức chỉ định thầu, mua sắm trực
tiếp, tự thực hiện, đàm phán giá, lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt,
gói thầu có sự tham gia của cộng đồng, lựa chọn tư vấn cá nhân theo quy trình
rút gọn. Đối với các hình thức lựa chọn nhà thầu này, việc ký hợp đồng điện tử
được thực hiện trên cơ sở phù hợp với tính năng và sự phát triển của Hệ thống
mạng đấu thầu quốc gia;
c) Dự án, dự toán mua sắm, gói thầu có các nội dung được bảo
mật mà việc công khai thông tin trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia sẽ ảnh
hưởng tới lợi ích cộng đồng hoặc gây nguy hại đến trật tự, an toàn xã hội hoặc
gây nguy hại tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, biên giới lãnh thổ.
Trường hợp việc công khai các
thông tin về dự án, dự toán mua sắm, gói thầu, kế hoạch lựa chọn nhà thầu, hồ
sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu
theo quy định tại Điều 8 của Luật Đấu thầu có
thể dẫn đến các hậu quả quy định tại điểm này, chủ đầu tư báo cáo người có thẩm
quyền xem xét, quyết định phê duyệt trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu về việc
không tổ chức đấu thầu qua mạng.
Trường hợp một số thông tin trong dự án, dự toán mua sắm, gói
thầu, hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu cần bảo mật và các
thông tin còn lại vẫn được công khai thì chủ đầu tư báo cáo người có thẩm quyền
về cách thức cung cấp thông tin. Các thông tin cần bảo mật không phải công khai
trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia; các thông tin khác được tiếp tục đăng tải
và tổ chức lựa chọn nhà thầu qua mạng;
d) Gói thầu vượt quá khả năng đáp ứng về hạ tầng kỹ thuật của
Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia;
đ)
Các gói thầu khác theo quy định của pháp luật.
Phòng Phổ biến và Quản lý vi phạm hành chính